Mô hình VNEN:

Dạy học cá thể theo hướng phát triển năng lực của học sinh
Mô hình VNEN:
Dạy học cá thể theo hướng phát triển năng lực của học sinh
 
Mô hình VNEN thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, coi quá trình tự học của học sinh là trung tâm hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Việc học tập mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân học sinh. Sau 04 năm triển khai tại trường Tiểu Học Lê Ngọc Hân đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Sự thay đổi của tổ chức lớp học theo mô hình VNEN với Hội đồng tự quản học sinh và được tổ chức theo các hình thức, như làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu. Do vậy đã thay đổi căn bản vai trò, nhiệm vụ của học sinh trong tổ chức của mình, thể hiện được tính tự chủ, tự giác, phát huy sáng tạo và tôn trọng ý kiến của các em nhiều hơn, các em tự nghiên cứu tìm hiểu kiến thức trong bài và qua tài liệu. Học sinh có ý thức chủ động hơn, giảm bớt sự phụ thuộc vào thầy cô giáo.
Nhóm là một bộ phận gắn kết cơ bản xuyên suốt cả quá trình, do vậy học sinh có điều kiện để rèn luyện các kỹ năng và hợp tác theo nhóm.Với những phần kiến thức khó, các em trao đổi với bạn trong nhóm và mạnh dạn trao đổi vướng mắc với giáo viên. Đặc biệt với sự giúp đỡ, tương trợ của các bạn trong nhóm, nhiều học sinh đã không còn rụt rè e ngại mà trở nên hoạt bát, hào hứng hơn trong học tập. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để các em phát huy tính sở trường cá nhân của mình, rèn luyện cho các em được nhiều kỹ năng sống, kỹ năng tập thể trong cách hoạt động học theo nhóm.
Mỗi tiết học không tạo áp lực đối với các em. Học sinh được học trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè, với thầy cô, được sự giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm và thầy cô, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em. Học sinh khá giỏi được phát huy, học sinh còn hạn chế, yếu kém được học sinh của nhóm và giáo viên giúp đỡ kịp thời ngay tại lớp.
Đặc trưng của phương pháp dạy học cá thể theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong mô hình VNEN là trước hết học sinh phải làm việc cá nhân để có chính kiến riêng mình, sau đó nói với nhau, đưa ra ý kiến của mình và lắng nghe ý kiến của các bạn để hoàn thiện thêm ý kiến của mình…do vậy học sinh được tạo nhiều cơ hội hơn để diễn đạt, khám phá ý tưởng, mở rộng suy nghĩ và rèn luyện kỹ năng nói, tự tìm tòi để đưa ra được ý kiến của mình, tạo cơ hội để học hỏi từ các bạn, cũng từ đây các em có kĩ năng giao tiếp tốt hơn.
Tâm sự của học sinh lớp 4 về mô hình học VNEN
 
Việc học tập tích cực trong nhóm cũng hình thành cho các em kĩ năng lắng nghe, kĩ năng ra quyết định…trước khi đưa ra vấn đề, tạo sự tương tác thân thiện giữa các bạn cùng nhóm, luôn có thái độ hỗ trợ, tương trợ lẫn nhau. Tăng cường tính  tích cực, chủ động, linh hoạt hơn và học sinh thật sự tham gia vào quá trình chiếm lĩnh kiến thức. Trong từng tiết học mỗi giáo viên khi lên lớp phải lượng hóa được mục tiêu đảm bảo phù hợp với mọi đối tượng học sinh, có các chỉ dẫn để thể hiện rõ quan hệ tương - hỗ, trong đó giáo viên và học sinh là cộng sự của nhau trong quá trình học tập. GV phải thường xuyên bám sát tiến độ của học sinh, có bài tập dành cho học sinh theo trình độ
               Biết kết nối với các công cụ trong lớp học như HĐTQ, các ban học tập và các góc học tập bộ môn với phương châm: Công cụ đó nhằm phát triển năng lực gì? Sử dụng công cụ này như thế nào?
Giáo viên và học sinh cùng xây dựng bảng tích lũy kiến thức theo đơn vị tuần, để từ đó học sinh và giáo viên tự đánh giá năng lực học tập, từ đó đề ra mục tiêu phấn đấu cho bản thân.
          Học nhóm VNEN tuân theo quy trình: Cá nhân tự học – chia sẻ cặp đôi – trao đổi nhóm. Trong học tập, hoạt động tự học là quan trọng nhất, tự học để có hiểu biết về vấn đề học tập của riêng mình. Ban đầu những hiểu biết này có thể đúng, có thể chưa đúng, nhưng nhất thiết mỗi cá nhân phải có kết quả học tập của riêng mình. Chia sẻ trong cặp đôi để học sinh kiểm tra nhận thức, kết quả của mình, của bạn, điều chỉnh để có kết quả đúng. Trao đổi nhóm một mặt để kiểm tra kết quả, một mặt để học sinh trình bày, bảo vệ chứng kiến, tiếp thu ý kiến của bạn. Hoạt động nhóm tạo môi trường, động lực để mỗi học sinh thể hiện khả năng nhận thức, giao tiếp, chia sẻ, hợp tác của mình. Hoạt độngnhóm không thể thay thế tự học của cá nhân. Tự học tạo ra nội lực. Cá nhân có hiểu biết mới có thể chia sẻ trong cặp đôi hay trao đổi trong hoạt động nhóm. Trên thực tế khả năng, và tốc độ học của học sinh không đều nhau, giáo viên chú ý hỗ trợ học sinh yếu để các em tham gia nhiều hơn trong hoạt động học, có như vậy các em mới có thêm hiểu biết và tự tin trong quá trình học tập.
Trong suốt một tiết học VNEN, học sinh tự học, tự làm việc với tài liệu hướng dẫn học, quá trình chiếm lĩnh của học sinh được thực hiện qua mười bước học tập. Đầu tiên học sinh đọc và viết tên bài học,rồi chủ động đọc mục tiêu bài học- đây là việc đầu tiên của học sinh phải biết mình làm cái gì trong bài học này. Hoạt động cơ bản là quá trình tự trải nghiệm nghiên cứu tài liệu, bắt đầu từ cá nhân và sau đó là trao đổi trong nhóm. Vận dụng những điều vừa tìm hiểu vào hoạt động thực hành . Trình tự bài học đến khi báo cáo kết quả học tập thể hiện tính độc lập của cá nhân và nhóm,với từng hoạt động học sinh không chỉ mở rộng hiểu biết về kiến thức, kĩ năng mà thông qua các chuỗi hoạt động còn hình thành phẩm chất, tự tin ,tự chịu trách nhiệm ,cũng như hình thành năng lực giao tiếp ,chung sống hòa bình,đặc biệt là năng lực đề xuất. năng lực này được hình thành chủ yếu trong hoạt động ứng dụng .Các em sau khi tìm kiến thức mới thì đề xuất với bố mẹ người thân giúp lập dự án nhỏ và thực hành trong đời sống
            Ngoài ra học sinh không chỉ bó hẹp học trong tài liệu hướng mà còn mở rộng vốn hiểu biết của mình từ cộng đồng thông qua cuốn sổ ghi chép,qua các công cụ nhịp cầu bè bạn và rất nhiều các công cụ khác một cách tự nhiên phù hợp.Đây là điểm mới mà khác xa với dạy học truyền thống .
          Việc đánh giá cũng đã thay đổi vai trò của giáo viên, đánh giá của giáo viên là sự kết hợp với việc học sinh tự đánh giá thể hiện ở mức độ được thực hiện từ nhóm học tập và cộng đồng đánh giá. Với vai trò tổ chức, hướng dẫn giáo viên luôn quan sát để phát hiện và giúp đỡ kịp thời cho cá nhân, nhóm học sinh khi có tín hiệu yêu cầu trợ giúp, cũng từ phát hiện này để giáo viên có cơ sở khi đánh giá thường xuyên quá trình, tiến độ cho học sinh trong lớp.
             Hoạt động dạy học của giáo viên theo mô hình VNEN được thay đổi cơ bản so với dạy học truyền thống thể hiện ở hình thức tổ chức dạy học. Khi lớp học thành các nhóm tự học, do vậy vai trò của giáo viên đã thay đổi từ truyền thụ, giảng giải thậm chi là làm thay chuyển sang hướng dẫn, trợ giúp phù hợp, đúng thời điểm. Từ chỗ học sinh tiếp thu thụ động đến để cho học sinh tự tìm kiếm qua tài liệu, thảo luận nhóm cũng là một quá trình điều chỉnh của bản thân người học. Vai trò tổ chức, hướng dẫn lớp học phát huy được tốt thông qua sự quan sát và cách tiếp cận hỗ trợ học sinh của giáo viên.
Quá trình đánh giá học sinh thay đổi từ nhiều khía cạnh và yếu tố khác nhau thể hiện được vai trò của cá nhân và nhóm học sinh trong quá trình tự đánh giá kết quả của mình. Giáo viên luôn quan tâm vận dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể để xây dựng bài học, thay đổi các hình thức tổ chức cho phù hợp. Những dự kiến của giáo viên chỉ tập trung chủ yếu vào các hoạt động học tập của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi học sinh.
Thực tế, những thay đổi không chỉ được đánh giá từ phía nhà trường, hay trên lý thuyết mà qua quá trình quan sát, tiếp xúc thực tế và dự giờ tại mỗi lớp học theo mô hình VNEN, chúng ta sẽ thấy được sự tự tin, mạnh dạn của học sinh, nhất là khi các em thực hiện các nhiệm vụ học tập cũng như trong giao tiếp. Kết quả cho thấy học sinh hiểu bài, nắm vững kiến thức, kĩ năng của bài học, giờ học được diễn ra tự nhiên. Có thể nói mô hình VNEN triển khai tại trường tiểu học Lê Ngọc Hân bước đầu đã đạt được mục tiêu của Dự án, có được kết quả đáng ghi nhận.
 

 

Nguồn tin: TH - Lê Ngọc Hân - TP. Lào Cai